1 TIẾNG VIỆT NAM BỘ: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ CÁC ẶC TRƯNG NGỮ ÂM, TỪ VỰNG TS. LÝ TÙNG HIẾU (Khoa Vn hoá học, Trường H KHXH&NV TP.HCM) Tính đến nay, tiếng Việt Nam Bộ, một bộ phận của tiếng Việt thống nhất, đã có 4 thế kỷ hình thành, phát triển. Các yếu tố làm hình thành tiếng Việt Nam Bộ cng là những yếu tố làm hình thành tập hợp cư dân ở nơi đây: di dân người Việt từ vùng Ng Quảng và Nam Trung Bộ, người Chm, người Khmer, người Hoa. Người Pháp, người Mỹ, mặc dù đã rút đi sau khi kết thúc chiến tranh, nhưng cng đã để lại nơi đây những dấu ấn sâu đậm về ngôn ngữ và vn hoá. Các nhóm cư dân ấy đã cung cấp cho nhau vốn liếng ngôn ngữ sẵn có của mình, đồng thời cùng nhau sáng tạo, phát triển vốn liếng ngôn ngữ sẵn có để nó có thể phản ánh không gian vn hoá mới và các hoạt động kinh tế, vn hoá, xã hội gắn liền với không gian vn hoá mới. Chính vì vậy, tiếng Việt Nam Bộ ngày nay có những đặc trưng về ngữ âm và từ vựng rất khác biệt với các phương ngữ Bắc, Trung. Hiện nay, sự khác biệt đó vẫn đang tiếp tục gia tng. ó là vì ở nước ta, từ trước đến nay, các luồng di dân chỉ diễn ramột chiều từ Bắc vào Nam. Và từ thời k ổi mới, hàng vạn người phương Tây, phương ông đã quay trở lại Việt Nam mà nơi thu hút nhất chính là Nam Bộ. Do đó, khác với tiếng Việt ở miền Bắc, miền Trung, tiếng Việt ở Nam Bộ có điều kiện để phát triển, biến đổi nhanh hơn. Bài viết này nguyên là một phần của chuyên đề ngôn ngữ học biên soạn cho lớp diễn viên lồng tiếng (tháng 7 - tháng 8/2009) của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn ào tạo Truyền thông Trí Việt, thành phố Hồ Chí Minh. Nay chúng tôi hoàn chỉnh và công bố ở đây để cung cấp thông tin tư liệu cho tất cả những bạn đọc quan tâm. ooOoo 1. CÁC PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH & SỰ KHÁC BIỆT VỀ NGỮ ÂM, TỪ VỰNG 1.1. Sơ lược về lịch sử hình thành các phương ngữ tiếng Việt (1) Ngôn ngữ là một khái niệm trừu tượng chỉ phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người. Vì con người bao gồm các cộng đồng người cụ thể, nên ngôn ngữ cng được biểu hiện thông qua ngôn ngữ của các cộng đồng người cụ thể. Nếu cộng đồng người đó là một tộc người, chúng ta có ngôn ngữ tộc người. Và trong phạm vi một tộc người, ngôn ngữ l ại được biểu hiện thông qua các phương ngữ địa lý (geographical dialects) và các phương ngữ xã hội (social dialects). Các phương ngữ đị a lý lại có thể bao gồm một số thổ ngữ (local dialects, patois) có đị a bàn phân bố hẹp hơn.Viết l ại lịch sử hình thành, nhận di ện sự khác biệt về ngữ âm, t ừ vựng, ngữ pháp và về vai trò của các phương ngữ địa lý, là nhiệm vụ của phương ngữ học đị a lý (geographical dialectology). Tiếng Việt là một ngôn ngữ tộc người, một ngôn ngữ quốc gia có tính thống nhất cao. Tuy nhiên, sự gián đoạn về thời gian và không gian trong lịch sử phát tri ển của ti ếng Vi ệt cng đã gây ra nhiều điểm khác biệt trong ti ếng nói của các vùng miền, làm hình thành các phương ngữ và thổ ngữ. Theo quan điểm của đa số các nhà nghiên cứu về phương ngữ tiếng Vi ệt, có thể chia ti ếng Việt thành 3 phương ngữ chính: