IMO STANDARD MARINE COMMUNICATION PHRASES Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải khu vực I 2 LỜI GIỚI THIỆU Do việc trao đổi thông tin an toàn và thông tin hàng hải từ tàu đến bờ, từ tàu đến tàu và trên tàu phải chính xác, đơn giản và không bị nhầm lẫn để tránh sai sót và lẫn lộn thì cần phải tiêu chuẩn hóa ngôn ngữ sử dụng. Điều này có tầm quan trọng đặc biệt dưới góc độ sự tăng trưởng về số lượng các tàu hoạt động quốc tế với thuyền viên nói nhiều thứ tiếng khác nhau, vì vấn đề trao đổi thông tin có thể gây ra sự nhiểu nhầm dẫn tới nguy hiểm cho tàu, người trên tầu và cho môi trường. Năm 1973, Ủy ban An toàn hàng hải, tại phiên họp lần thứ 27 đã thống nhất rằng khi phát sinh khó khăn về ngôn ngữ thì một ngôn ngữ chung cần được sử dụng cho mục đích hàng hải và đó chính là tiếng Anh. Do đó Từ vựng tàu biển hàng hải chuẩn (Standard Marine Navigational Vocalbulary – SMNV) được xây dựng và thừa nhận vào năm 1977 và được sửa đổi năm 1985. Năm 1992, Ủy ban An toàn hàng hải tại phiên họp thứ 60 đã hướng dẫn tiểu ban An toàn Hàng hải xây dựng một ngôn ngữ an toàn được chuẩn hóa tổng hợp hơn là SMNV 1985 có tính đến những điều kiện thay đổi trong việc đi biển hiện đại và bao trùm tất cả các việc trao đổi thông tin chủ yếu bằng lời liên quan tới an toàn. Tại phiên họp lần thứ 68 năm 1997, ỦY ban An toàn hàng hải đã thừa nhận bản dự thảo của Cụm từ trao đổi thông tin hàng hải chuẩn – Standard Marine Communication Phrases (SMCP) do Tiểu ban An toàn hàng hải xây dựng. Bản dự thảo, sau khi thử nghiệm quốc tế, đã được sửa đổi tại phiên họp lần thứ 46 của tiểu ban và được xem xét lại lần cuối tại phiên họp lần thứ 74 của Ủy ban An toàn hàng hải dưới góc độ nhận xét mà IMO nhân được. IMO SMCP được Đại hội đồng thừa nhận vào tháng 11/2001 là nghị quyết A.918(22). Theo Công ước tiêu chuẩn về Huấn luyện, Cấp chứng chỉ và Trực ca cho người đi biển 1978 được sửa đổi 1995, khả năng hiểu và sử dụng IMO SMCP là bắt buộc đổi với việc cấp chứng chỉ cho sĩ quan trực ca tàu biển trên các tàu tà 500GT hoặc hơn.