03.2019 150 Trang 1 hình đánh giá sự sẵn sàng đầu tư của khu vực tư nhân trong các dự án PPP giao thông ở Việt Nam An investment willingness assessment model for private sector in PPP transportation projects in Vietnam Đỗ Tiến Sỹ, Nguyễn Anh Thư, Trần Nguyễn Nhật Nam TÓM TẮT Với nhu cầu vận tải gia tăng và sự không đáp ứng về vốn đầu tư cơ sở hạ tầng, điều này gây ra rất nhiều thách thức cho Việt Nam trong những thập kỷ gần đây. Một trong những khó khăn lớn đó là tổng vốn đầu tư quá lớn trong khi ngân sách nhà nước là không thể đáp ứng được. Để giải quyết những thách thức này, Chính phủ đã kêu gọi việc đầu tư của các thành phần kinh tế khác nhau trong đó tập trung chính vào khu vực tư nhân. Qua đó, chính phủ đã và đang hợp tác với khu vực tư nhân theo hình thức hợp tác công-tư (PPP). Nhưng sự phát triển của dự án PPP ở Việt Nam đang gặp phải những thách thức rất lớn, đặc biệt là những khó khăn rất lớn trong việc thu hút đầu tư tư nhân. Do đó, việc xác định các nhân tố rủi ro ảnh hưởng dự án PPP là cần thiết để thu hút các nhà đầu tư tư nhân. Nghiên cứu này nhằm mục đích thiết lập một khung đánh giá về sự sẵn sàng đầu tư của khu vực tư nhân trong các dự án giao thông ở Việt Nam. Đầu tiên, 33 nhân tố rủi ro được xác định dựa trên các cuộc phỏng vấn sâu, bảng câu hỏi khảo sát và các dự án PPP thực tế ở Việt Nam. Phân tích nhân tố được sử dụng để nhóm lại thành 6 thành phần nhân tố chính cho các nhân tố rủi ro, đó là tài chính, các quy định và luật pháp, năng lực của các đối tác, quy trình đấu thầu, tính khả thi, và sự can thiệp. Các yếu tố quyết định mức độ sẵn sàng đầu tư có thể được đánh giá thông qua 6 đặc điểm chính như: tài chính, lợi nhuận, khung pháp lý, lựa chọn đối tác, sự chia sẻ rủi ro, và kinh tế vĩ mô. Ngoài ra các chiến lược ứng phó với các rủi ro trong trường hợp khu vực tư nhân sẵn sàng đầu tư được thể hiện qua 4 nhóm chiến lược chính, đó là chiến lược hợp tác, chiến lược tài chính, chiến lược đánh giá, và chiến lược đề xuất với chính phủ. Qua đó, nghiên cứu này đề xuất một mô hình đánh giá sự sẵn sàng đầu tư của khu vực tư nhân để xem xét mối tương quan giữa các nhóm nhân tố rủi ro, nhóm tiêu chí quyết định đầu tư, và nhóm các chiến lược ứng phó. Từ khóa: Sự sẵn sàng đầu tư, Khu vực tư nhân, PPP, Rủi ro, Chiến lược ứng phó. ABSTRACT The increasing demand for transportation, not yet being satisfied due to ineffectiveness in financing for investment in the field, has resulted in various challenges for Vietnam in recent decades. As one of the major difficulties, the required sum is so huge that the state budget alone cannot burden. In order to encounter such a challenge, the government has called for the sharing of the different economic sectors, with particular emphasis to the private sector. Accordingly, the government has been cooperating with private sector in the new form of Public-Private Partnership (PPP). Development of PPP transportation projects has encountered with critical challenges, particularly the enormous difficulties in attracting private investment. This study aims to establish an evaluation framework for the investment willingness of private sector in PPP transportation projects in Vietnam. Thirty-three risk factors were identified specifically for up-to-date PPP transportation projects. Factor analysis uncovered that these risk factors can be grouped under six components, namely finance, laws and regulations, partners’ capacity, bidding process, feasibility, and interference. The determinants of private sector’s investment willingness can be assessed throughout six key attributes as: financing, profitability, legal framework, partner selection, risk sharing, and macroeconomics. Moreover, the responsive strategies of private sector can be determined by four major groups as: Cooperation, Financing, Evaluation, and Suggestions for government. This study proposes an investment willingness assessment model to examine the relationships among different risk factors, investment willingness and responsive strategies of private sector. Keywords: Investment Willingness, Private sector, PPP, Risk, Strategy. Đỗ Tiến Sỹ, Giảng viên, Khoa Kỹ Thuật Xây Dựng, Trườ ng Đại Học Bách Khoa – Đại Họ c Quốc Gia Tp.HCM Nguyễn Anh Thư, Giảng viên, Khoa Kỹ Thuật Xây Dựng, Trường Đại Học Bách Khoa – Đại Họ c Quố c Gia Tp.HCM Trần Nguyễn Nhật Nam Học viên cao học ngành Quản lý dự án, Khoa Kỹ Thuật Xây Dựng, Trườ ng Đại Học Bách Khoa – Đại Học Quốc Gia Tp.HCM Ngày nhận bài: 23/01/2019 Ngày sửa bài: 08/02/2019 Ngày chấp nhận đng: 15/03/2019