r \ Q m TIÊU ĐIỂM QUẢN TRỊ Sự phát triển (và sụp đổ) của công ty NOKIA, Phần Lan Thị trường điện thoại không dây là một trong những câu chuyện tăng trường mạnh mẽ trong suốt 20 năm qua. Bắt đầu từ một xuất phát điểm thấp, doanh thu toàn cầu của điện thoại không dây đã vươn lên đạt con số khoảng 1,6 tỷ chiếc vào năm 2010. Vào cuối năm 2010, số tài khoản đăng ký sử dụng mạng không dây toàn thế giới là 4,5 tỷ, tăng từ con số ít hơn 10 triệu vào năm 1990. Nokia là một trong những “người chơi” có ưu thế vượt trội trên thị trường thế giới về điện thoại di động với thị phần 28,9% vào năm 2010. Quê hương của Nokia là Phần Lan, không phải là một quốc gia mà người ta thường nghĩ đến khi nói về các công ty công nghệ tiên tiến hàng đầu. Vào những năm 1980, Nokia là một tập đoàn hoạt động manh mún ở Phần Lan tập trung vào sản xuất vỏ xe, giấy, hàng tiêu dùng điện tử và thiết bị viễn thông. Vào cuối những năm 2000, công ty tự chuyển đổi thành hãng chuyên sản xuất thiết bị viễn thông vươn ra toàn cầu. Làm sao một tập đoàn manh mún trước đây lại nổi lên nắm vị trí dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực thiết bị viễn thông không dây? Đa số câu trả lời nằm ờ lịch sử, địa lý và nền kinh tế chinh trị của Phần Lan và các quốc gia láng giềng Bắc Âu. Vào năm 1981, các quốc gia Bắc Âu hợp tác xây dựng một hệ thống điện thoại không dây quốc tế đầu tiên trên thế giới. Họ có lý khi đi tiên phong vì chi phí cho việc lắp đặt một mạng dịch vụ điện thoại không dây truyền thống rất cao ở các quốc gia thưa thớt dân cư và lạnh lẽo đến mức khó sinh sống này. Có nhiều điểm chung khiến cho việc xây dựng một hệ thống thông tin liên lạc chung của họ có ý nghĩa hơn. Người dân lál xe trong mùa đông Bắc cực và cư dân ở cực Bắc xa xôi cần có điện thoại để cầu cứu khi gặp vấn đề gi đó. Kết quả là Thụy Điển, Na-Uy và Phần Lan là các quốc gia đầu tiên xem xét vấn đề thông tin liên lạc không dây một cách nghiêm túc. Vì dụ, họ thấy rằng phải mất đến 800$/thuê bao để cung cấp dịch vụ điện thoại truyền thống đến các vùng xa xôi hẻo lánh, trong khi chỉ với 500$/người dân ở đó đã có thể thực hiện kết nối bằng điện thoại không dây. Vì vậy, đến năm 1994, 12% dân cư sống tại vùng Scandinavia có điện thoại không dây, so với dưới 6% tại Mỹ, thị trường phát triển đứng thứ 2 thế giới. Thị trường này vãn tiếp tục dẫn đầu trong thập kỷ sau đó. Đến năm 2008, 90% dân số Phần Lan đã sở hữu điện thoại di động, so với 70% ờ Mỹ. Nokia, một công ty cung cấp thiết bị viễn thông lâu đời, đâ có một vị thế tốt để tận dụng lợi thế phát triển này ngay từ đầu, những lực lượng khác cũng giúp Nokia phát triển lợi thế cạnh tranh của nó. Không như hầu hết các quốc gia phát triển khác, Phần Lan chưa bao giờ tồn tại một V____________ ________ __ công ty điện thoại độc quyền nhà nước. Thay vào đó, các dịch vụ điện thoại quốc gia được cung cấp bởi khoảng 50 công ty điện thoại tư nhân địa phương. Ban quản trị được bầu lên của các công ty xác định giá cả dịch vụ thông qua trưng cầu ý kiến cư dân (nghĩa là giá mặc nhiên sẽ thấp). Các công ty hoạt động độc lập này và các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại nhạy cảm với chi phí đã tránh cho Nokia việc phải bằng mọi giá giành lấy bất cứ ân huệ nào trong thị trường nội địa. Với tính thực dụng đặc thù ở Phần Lan, người tiêu dùng chì muốn mua hàng từ nhà cung cấp có giá thấp nhất, bất kể đó là Nokia, Ericsson, Motorola, hay một số công ty khác. Tinh trạng này hoàn toàn khác với những gì xảy ra phổ biến ở đa số quốc gia phát triển khác cho đến cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990. ở các quốc gia này, các công ty độc quyền nội địa thường mua các thiết bị từ một nhà cung ứng thống trị ờ địa phương hoặc tự sản xuất. Nokia đối phó với áp lực cạnh tranh bằng cách làm mọi thứ có thể để giảm chi phí sản xuất, trong khi vẫn giữ được lợi thế cạnh tranh về công nghệ không dây. Điều này đã làm cho Nokia trờ thành một công ty dẫn đầu trong công nghệ không dây kỹ thuật số. Tuy nhiên, hiện nay Nokia đã gặp một số vấn đề trong lĩnh vực này. Vài năm qua, Nokia đã mất vị trí dẫn đầu trong thị trường sinh lợi này vào tay các sản phẩm điện thoại thông minh như iPhone của Apple và điện thoại sử dụng hệ điều hành Android của Google. Hiện nay, thị phần của Nokia bị co lại và lợi nhuận cũng giảm sút. Từ rất lâu Nokia gắn chặt vào ý tưởng các thiết bị cầm tay chỉ dành cho những người gọi điện thoại và không chú ý rằng các ứng dụng chạy trên Web đã đang định hướng nhu cầu cho các sản phẩm như iPhone. Tại sao một công ty một thời dẫn đầu thị trường lại phạm phải sai lầm như vậy? Nokia quá cách biệt với các công ty hoạt động dựa vào Web và các công ty điện tử tiêu dùng khác, ngược lạl Apple, có trụ sờ tại Silicon Valley, Caliíornia, được vây quanh bởi nhiều công ty trên. Điều đó có nghĩa là không giống như Apple (và Google, với hệ điều hành Android đang được chạy trên nhiều điện thoại thông minh), Nokia không được tham gia vào việc trao đổi các sáng kiến luân chuyển hàng ngày quanh Silicon Valley. Vị trí, ban đầu là một lợi thế của Nokia, đã trở thành một yếu tố bất lợi. Nguồn: “Lessons from the Frozen North," Economist, October 8, 1994, pp. 76-77; “A Pinnish Fable,' Economist, October 14, 2000; D. 0'Shea and K. Pitchard, “The First 3 Billion Is Always the Hardest," VVireless Revievv 22 (September 2005), pp. 25-31; p. Taylor, "Big Names Dominate in Mobile Phones,” Pinancial Times, September 29, 2006, p. 26; Nokia website atwww.nokia.com; and M. Lynn, “The Pallen King of Pinland," Bloomberg Businessweek, September 20, 2010. MỤC TIÊU HỌC TẠP 4 ngành nhất định là một hàm số chịu tác động tổng hỢp của các biến só sau; tính Q -j những luận điểm sẵn có của các yếu tố sản xuất, các điểu kiện về cẩu nội địa, các ngành công nghiệp cho rằng chính phủ có thể giữ i : a_ i , a -. a ; a J u ; a vai trò tiên phong trong việc liên kết và phụ trỢ, và cạnh tranh nội địa. Theo ông, sự hiện diện của tất cả bốn thuộc tính là cần thiết để hình thành lên mô hình kim cương nhằm thúc đẩy năng thúc đẩy có thể cạnh tranh quốc gia trong một số ngành công nghiệp Chương 6: Học thuyết thương mại quốc tế 257